NHỮNG SỰ KIỆN LỊCH SỬ VIỆT NAM TRONG THẾ KỶ XX KHIẾN CẢ THẾ GIỚI NỂ PHỤC

Tài nguyên thư viện

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Menu chức năng 12

    Menu chức năng 13

    Quảng Ngãi - Nỗi đau không nguôi

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7137642132401_d8a2f220097e30ea188875f77d5cdaea.jpg Md.jpg 6.jpg 7.jpg 8.jpg 9.jpg

    Sách Bác Hồ

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 81 NĂM NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 22/12/1944 - 22/12/2025 💕💕

    https://youtu.be/58UKZPSDccw

    Duong Bac Ho di cuu nuoc

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Thảo
    Ngày gửi: 08h:27' 13-01-2026
    Dung lượng: 1.3 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Thông tin sách gốc
    Tác phẩm: Đường Bác Hồ đi cứu nước
    Tác giả:
    Nhà xuất bản: Thanh Niên
    Năm tác phẩm ra đời: 1975
    Số trang: 365 trang (in trên khổ giấy A5)

    Thông tin ebook
    Đội ngũ đánh máy: Như
    Hảo, alpah8x, kzak27,silence00,tulipviet,hhongxuan.

    Đội ngũ soát lỗi chính
    tả: dtpmai189,suongdem,hhongxuan,teddy_M,Lannua2003, ngankh
    Thể loại: Văn học Sử
    Ngày hoàn thành: 17/10/2015
    Người chế bản: Zhiqiang
    Nguồn sách gốc: dangtuanpr
    Ebook này được thực hiện theo dự án “SỐ HÓA 1000 QUYỂN
    SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG” của diễn đàn TVE4U.ORG
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Mục lục
    Lời tựa
    ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC ​
    Hồ Chủ tịch hình ảnh dân tộc
    Làm bất cứ việc gì để sống và để đi ​
    Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam ​
    Sống, làm việc gian khổ để học tập và hoạt động ​
    Trong ngõ hẻm Công Poanh
    Ở Đại hội Tua
    Lời phát biểu tại đại hội Tua
    Gặp “con cáo già” thuộc địa
    Đến Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đầu tiên
    Sáng lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội
    Trở về Tổ quốc cách mạng
    LỜI KÊU GỌI [8]
    "Vụ án" ở Hương Cảng
    Trở lại đất nước Xô viết.
    Trên đường về nước qua Trung Quốc.
    Từ Vân Nam – Tĩnh Tây về Pắc Bó
    Bị Quốc dân đảng Trung Quốc bắt
    Về Tân Trào
    Một thời đại mới của dân tộc

    Lời tựa
    Đường Bác Hồ đi cứu nước là một tập hợp các câu chuyện
    về con đường Bác Hồ đi cứu nước từ khi rời bến cảng nhà
    rồng cho đến lúc Bác về với cây đa Tân Trào. Đến với cuốn
    sách bạn sẽ thấy những ngày gian khổ của Bác và các đồng
    chí của mình khi tìm lối thoát cho dân tộc khỏi bị áp bức. Các
    câu chuyện được trình bày dung dị nhưng toát lên được tinh
    thần của vị cha già dân tộc.
    Một cuốn sách lịch sử nhưng không hề khô khan, bạn sẽ phải
    phì cười khi biết Bác và các đồng đội của mình tìm được một
    chỗ ẩn náu lý tưởng trong màn sương nhưng đến khi sương
    tan mới biết mình đang ở giữa cánh đồng lớn. Và còn rất
    nhiều những cậu chuyện khác không kém phần thú vị khác
    chờ đón bạn khám phá.

    ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC ​

    “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ
    Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã
    làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước
    ta”.
    Trích: “Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao
    động Việt Nam do đồng chí Lê Duẩn Bí thư thứ nhất, đọc tại
    lễ truy điệu trọng thể Hồ Chủ tịch”.

    Hồ Chủ tịch hình ảnh dân tộc
    “Bình sinh Hồ Chủ tịch là người rất giản dị, lão thực, vĩ nhân
    thật vĩ nhân bao giờ cũng giản dị lão thực. Đã cầu kỳ là thiếu
    bản lĩnh, cố làm trò để đánh lừa thiên hạ và hậu thế. Vua
    Nghiêu, vua Thuấn, Chúa Giê-du là những người giản dị, lão
    thực. Ông Lê-nin, ông Tôn Văn, thánh Găng-đi cũng là người
    giản dị lão thực. Bậc đại khoa hoặc đại văn hào cũng vậy.
    Trái lại Hít-le là một kẻ gian hung. Còn bên cạnh Hít-le, Mútxô-li-ni chỉ là một thằng hề.
    Xem một đôi bức ảnh Hồ Chủ tịch, có người nói mắt Người có
    hai con ngươi, và tin rằng vì chỗ đó, Người là một ông thánh.
    Làm gì có chuyện hoang đường như thế! Mắt Hồ Chủ tịch
    cũng như mắt mọi người sáng hơn mắt mọi người nhiều lắm
    đã đành, nhưng sáng hơn vì Người biết nhìn, nên nhìn thấy
    những cái mọi người không nhìn thấy; hiện tại, tương lai, cái
    nhỏ, cái to.
    Hồ Chủ tịch là người Việt Nam, Việt Nam hơn Việt Nam nào
    hết. Ngót ba mươi năm bôn tẩu bốn phương trời, Người vẫn
    giữ thuần túy, phong độ, ngôn ngữ, tính tình của người Việt
    Nam. Ngôn ngữ của Người phong phú, ý vị như ngôn ngữ
    người dân quê Việt Nam; Người khéo dùng tục ngữ, hay nói
    ví, thường có lối châm biếm kín đáo và thú vị. Làm thơ,

    Người thích lối ca dao, vì ca dao là Việt Nam cũng như núi
    Tràng Sơn, hồ Hoàn Kiếm hay Đồng Tháp Mười vậy. Mấy
    mươi năm xa cách quê hương, Người không quên mùi vị
    những thức ăn đặc biệt Việt Nam như cà muối, dưa chua,
    tương ớt, và ngày thường bây giờ, Người vẫn ưa thích những
    thứ ấy. Ngay sau khi về nước, gặp Tết, Người không quên
    mừng tuổi đồng bào hàng xóm và quà bánh cho trẻ em, tuy
    chỉ có mấy đồng xu nhưng cũng bọc giấy hồng đơn cẩn thận,
    tiêm tất. Bình sinh như thế, đứng địa vị Chủ tịch chính phủ
    kháng chiến kêu gọi quốc dân, Người dùng những lời nói
    thống thiết đi sâu vào tâm hồn Việt Nam: “Nhiễu điều phủ
    lấy giá gương, người trong một nước thì thương nhau cùng”.
    Lối ăn ở của Hồ Chủ tịch giản dị như thế nào, chúng ta đã
    từng biết. Lúc ở chiến khu, Người sống chung với anh em
    trong một cơ quan, làm việc, học tập, ăn ở, sinh hoạt nhất
    nhất như anh em. Có những lúc vì gạo thiếu hay khí hậu
    nặng, cần ăn ít một chút Người cũng vui vẻ chịu đựng cùng
    anh em. Kể ra Người có chỗ được biệt đãi: Đó là bát nước
    cơm mà anh Lộc, đồng chí cấp dưỡng lành nghề và thân mến
    của chúng tôi lúc ấy, bao giờ cũng để dành riêng cho Người
    từ biên giới Cao Bằng cho đến Tân Trào, trước khi về Hà Nội.
    Ở Hà Nội Chủ tịch Chính phủ có phòng làm việc, phòng tiếp
    khách, nhiều khi chủ tọa những bữa tiệc long trọng, nhưng
    bình thường ngày hai bữa, Chủ tịch chính phủ cùng nhân
    viên đều ăn chung. Nhiều lần, vì đến quá trễ, thức ăn không
    còn gì Hồ Chủ tịch vẫn vui cười ăn đủ mấy bát cơm thường
    lệ.
    Người vẫn thích đi bộ, tắm sông, hút thuốc lá và thỉnh
    thoảng uống một ly rượu thuốc trong bữa cơm. Trước đây,
    Người đi bộ một ngày 50 cây số là thường và có thể đi như
    thế ngày nọ qua ngày kia. Lúc ở Côn Minh, sáng nào Người
    cũng đi bộ một vòng quanh thành phố. Ở Liễu Châu, mùa
    đông, một hôm tướng Trương Phát Khuê đi ngựa dạo buổi
    sớm gặp Người tắm trên sông, Trương tướng quân lấy làm lạ
    một người ở phương Nam Á Châu chịu rét giỏi đến thế. Ở
    Cao Bằng, có lúc cơ quan đóng tại một cái suối lớn vừa ở
    trong hang đá chảy ra, nước trong xanh biếc dưới bóng mát

    của rừng cây; Hồ Chủ tịch suốt ngày làm việc ở đó với cái
    bàn máy đánh chữ “Hét mét” luôn luôn đi theo Người từ năm
    1938 đến khi về Hà Nội.
    Ở rừng, Hồ Chủ tịch chủ trương tránh ăn no, không ngủ trưa
    và hoạt động thân thể, buổi sáng thể dục, buổi chiều làm
    vườn, lúc cần đi vác củi cho đồng bào. Suốt trong thời gian ở
    thượng du Bắc Bộ, trước cuộc khởi nghĩa, nhiều ngày Người
    luôn tay nắn hòn đá bầu dục, cốt để luyện gân tay và hoạt
    động cơ thể. Người ít ưa dùng thuốc, chỉ có lúc nào sức cơ
    thể chống không nổi bệnh mới dùng. Ở Hà Nội, bác sĩ Tùng,
    bác sĩ Cẩn chuyên lo sức khỏe của Người nhưng không mấy
    khi Người phiền đến. Ở Pháp, anh em buộc bác sĩ Cưu ở bên
    cạnh Người nhưng rồi bác sĩ làm việc văn phòng nhiều hơn
    thầy thuốc. Sinh hoạt chiến khu thường cực lắm, có lần suốt
    mấy tháng mùa mưa Hồ Chủ tịch ở trong một cái hang chật
    hẹp ẩm thấp, ban đêm sâu bọ ở ngoài tràn vào. Lúc ấy vì cơ
    sở quần chúng kém, nên phải ẩn nấp trong hang cùng, và
    cũng vì cơ sở quần chúng kém, nên dẫu ẩn nấp trong hang
    cùng mà cũng không yên, thường vẫn phải chạy “cảnh báo”.
    Hễ có “cảnh báo” là phải mang hết đồ đạc chạy lánh đến một
    chỗ an toàn hơn. Lúc ấy Hồ Chủ tịch yếu, nhưng bất kỳ đêm
    ngày, hễ có tin địch là mấy phút sau Người đã sẵn sang
    trước anh em, tay xách bàn máy đánh chữ.
    Lúc đến Pháp, ngay hôm gặp đầu tiên, lối ăn ở giản dị của
    Hồ Chủ tịch làm cho kiều bào rất cảm động. Hôm ấy, tại Bia-rít, đại biểu kiều bào đến thăm Người, hồi hộp và sung
    sướng. Khách đông phòng khách không đủ ghế ngồi, giản dị
    Hồ Chủ tịch ngồi xuống sàn và mời mọi người ngồi thế nói
    chuyện. Đây không phải vị Chủ tịch chính phủ, đây là cha già
    của dân tộc ân cần và thân mật hỏi thăm đàn con bao năm
    lưu lạc ở quê người.
    Hồ Chủ tịch, người giản dị ấy, cũng là người lịch sự một cách
    thanh tao cao quí và mọi người ngoại quốc có dịp tiếp
    chuyện Người đều ca ngợi cái phong độ thanh tao cao quí mà
    họ cho là đặc sắc của phương Đông. Ở chiến khu, trong cơ
    quan, Hồ Chủ tịch thường mặc một bộ đồ xanh, chân đi đất;

    về Hà Nội, Người mặc một bộ đồ kaki, chân đi giầy vải.
    Nhưng sang Pháp thì Người mang giầy da và mặc một bộ đồ
    nỉ, cổ đứng. Ở Ba-lê có ngày Hồ Chủ tịch tiếp luôn ba bữa
    cơm khách, bữa sáng với bạn thân, bữa trưa với khách
    thường, bữa tối với khách đặc biệt, mỗi bữa có khi kéo dài
    ba tiếng đồng hồ, nhưng Hồ Chủ tịch thủy chung vẫn ân cần
    niềm nở.
    Hồ Chủ tịch rất vui tính, vì vốn có cái tính lạc quan của
    những người quyết chiến quyết thắng ngày nay và quyết
    tâm xây đắp đời sống tốt đẹp cho dân tộc ngày mai. Trong
    những bữa cơm, tiệc trà thân mật giữa nhân viên cao cấp
    chính phủ, Hồ Chủ tịch vui thú, nói chuyện, làm thơ, khôi
    hài. Một đôi khi, Người thoạt đến những buổi dạ hội tưng
    bừng ở nhà Hát lớn Hà Nội, các cháu thiếu nhi quây quần lại,
    nhưng một lát sau, Người nhẹ bước biến đi đâu mất. Người
    thích hoa và có kể câu chuyện ở Nga cũng như ở các nước
    Âu Mỹ, người ta dùng phi cơ chở các thứ hoa ở xa về để
    trang điểm đời sống hang ngày cả đô thị lớn. Nhưng trong
    vườn hoa Chủ tịch phủ, hoa ngày càng nhường chỗ cho
    khoai, bắp. Gần Côn Minh, có núi Tây Sơn, một thắng cảnh
    có tiếng; một hôm anh em muốn đi xem, Hồ Chủ tịch bảo:
    “Nếu tiện lắm sẽ hay; chúng ta là người cách mạng chứ
    không phải kẻ du lịch.”
    Đời sống Hồ Chủ tịch là một đời sống khắc khổ, cần lao và
    tranh đấu. Người lãnh tụ của một dân tộc mất nước không
    thể có một đời sống khác. Phải khắc khổ, cần lao và tranh
    đấu để mưu cầu hạnh phúc ngày mai. Có người e đời sống
    nghiêm khắc ấy không còn chỗ cho tình cảm. Nhưng chính
    Hồ Chủ tịch thường nói người cách mạng là người rất giàu
    tình cảm, và vì giàu tình cảm nên làm cách mạng. Người mà
    cả dân tộc tôn làm vị cha già của mình phải có lòng thương
    mênh mông xúc động đến tâm can của mọi người. Trong thời
    kỳ bí mật, phút mặc niệm chiến sĩ cách mạng là lúc Hồ Chủ
    tịch rơi nước mắt. Tại Quốc Hội Hồ Chủ tịch vừa khóc vừa ôm
    hôn anh Nguyễn Văn Tạo sau khi anh đọc một bài diễn văn
    thống thiết về Nam Bộ.

    Người xưa nói: Có việc phải lo, lo trước thiên hạ, có việc
    đáng vui vui sau thiên hạ, Hồ Chủ tịch nói một cách giản dị
    và thống thiết hơn: “Một ngày đồng bào còn chịu khổ là một
    ngày tôi ăn không ngon; ngủ không yên.”
    Câu nói đó đã bộc lộ tâm trạng Người, mối tình cảm ruột thịt
    bao bọc trăm họ của đại gia đình Việt Nam.
    Đối với người giản dị và lão thực ấy một câu nói là một việc
    làm và có làm thì mới nói. Giản dị và lão thực trong sự ăn ở,
    tính tình, trong lời nói, viết. Người cũng giản dị và lão thực
    trong chủ trương chính trị nữa. Dân tộc Việt Nam bây giờ
    muốn gì? Muốn thống nhất, độc lập, muốn no ấm, muốn biết
    chữ, muốn đời sống bớt tối tăm. Cho nên Hồ Chủ tịch chủ
    trương: đoàn kết kháng chiến, tăng gia sản xuất, bình dân
    học vụ, đời sống mới. Dân tộc Việt Nam quyết tâm và mỗi
    ngày tiến mạnh trên con đường sống còn sau lưng Hồ Chủ
    tịch.
    Hồ Chủ tịch thật là hiện thân của dân tộc Việt Nam và mọi
    người Việt Nam đều thấy mình trong Hồ Chủ tịch.
    Sức mạnh của Hồ Chủ tịch và sức mạnh của dân tộc Việt
    Nam là ở chỗ đoàn kết thống nhất ấy…”

    Tháng 8-1948 PHẠM VĂN ĐỒNG
    (Trích bài “Hồ Chủ tịch hình ảnh dân tộc”; in trong cuốn: Hồ
    Chủ tịch lãnh tụ của chúng ta, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội,
    năm 1967).

    Làm bất cứ việc gì để sống và để đi ​
    “Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người thiếu niên 15 tuổi.
    Người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước
    cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ, Anh đã có chí
    đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh đã tham gia

    công tác bí mật, nhận công việc liên lạc. Anh khâm phục các
    cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trinh và
    Phan Bội Châu, nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm
    của một người nào. Vì:
    Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải
    lương. Anh nhận điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin
    giặc rủ lòng thương.
    Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều
    đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo
    cửa sau”.
    Cụ Hoàng Hoa Thám còn thực tế hơn, vì trực tiếp đấu tranh
    chống Pháp. Nhưng theo lời người ta kể thì cụ còn nặng cốt
    cách phong kiến.
    Anh thấy rõ và quyết định con đường nên đi. Cụ Phan Bội
    Châu vào bậc chú của Anh. Cụ Phan Bội Châu muốn đưa anh
    và một số thanh niên sang Nhật. Nhưng Anh không đi. Anh
    muốn làm gì?
    Một vị trí thức ở Sài Gòn kể lại cho tôi:
    “Trong khi còn học ở trường Chasseloup-Laubat, tôi gặp một
    người thanh niên ở Trung Bộ vào Sài Gòn, ở nhà một người
    bạn. Vì cùng một lứa tuổi, cho nên chúng tôi lập tức trở nên
    đôi bạn thân. Tôi đưa anh đến trước tiệm cà phê của Pháp
    xem đèn điện, xem chiếu bóng và máy nước. Những cái đó,
    trước kia anh chưa hề thấy.
    Một hôm tôi mời anh ăn kem. Anh rất lạ. Lần đầu tiên anh
    mới nếm mùi kem.
    Sau ít hôm, anh đột nhiên hỏi tôi: “Anh Lê, anh có yêu nước
    không.”
    Tôi ngạc nhiên và đáp: “Tất nhiên là có chứ!”
    - Anh có thể giữ bí mật không?

    - Có
    - Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác.
    Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng
    bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều
    mạo hiểm, vì như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi không?
    - Nhưng bạn ơi, chúng ta lấy đâu ra tiền mà đi?
    - Đây, tiền đây.- Anh bạn của tôi vừa nói vừa giơ hai bàn
    tay. – Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì
    để sống và để đi. Thế thì anh cùng đi với tôi chứ?
    Bị lôi cuốn vì lòng hăng hái của anh, tôi đồng ý.
    Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ về cuộc phiêu lưu, tôi không có
    đủ can đảm để giữ lời hứa.
    Vài ngày sau, tôi không gặp lại anh bạn nữa. Tôi đoán là anh
    ta đã đi ngoại quốc. Anh ta đi bằng cách nào? Tôi không
    biết. Về sau, tôi chỉ biết người thanh niên yêu nước đầy nhiệt
    huyết ấy là cụ Nguyễn Ái Quốc, là Hồ Chủ tịch của chúng ta
    ngày nay.
    Chính ông Mai ở Hải Phòng, nhân viên cũ trên một chiếc tàu
    Pháp của hãng “Vận tải hợp nhất” đã cho chúng tôi biết
    những điều mà ông Lê không rõ.
    Ông Mai kể lại:
    Vào khoảng giữa năm 1911 hay 1912 – Tôi không nhớ đúng
    nữa – tôi làm việc ở phòng ăn của các sĩ quan trên tàu. Tàu
    chúng tôi cập bến Sài Gòn để lấy hàng và đón khách.
    Một buổi trưa, một người trai trẻ lên tàu. Sau một phút ngập
    ngừng anh ta hỏi xin việc.
    Chúng tôi trả lời là không có việc gì và có chăng nữa, chúng
    tôi cũng không có quyền nhận anh ta.

    Chúng tôi cười vì chàng trai có vẻ một anh học trò không
    phải là người lao động như chúng tôi. Chúng tôi nói nhỏ với
    nhau: “Một người như thế có thể làm công việc gì trên tàu?”
    Tôi không hiểu tại sao tôi thấy thương hại anh ta và tôi nói:
    “Đi theo tôi, tôi sẽ dẫn anh đến gặp chủ tàu. Có lẽ ông ta sẽ
    có việc cho anh làm”.
    Chủ tàu hỏi: “Anh có thể làm việc gì?”
    - Tôi có thể làm bất cứ việc gì! Chàng trai trả lời.
    - Được, ta sẽ lấy anh làm phụ bếp. Sáng mai anh đến đây
    nhận việc.
    Chàng trai ấy xưng tên là Ba. Vì tôi đã giúp anh ta việc nhỏ
    ấy, cho nên anh ta rất thân với tôi, và cũng vì anh ta rất dễ
    yêu nên tôi cũng rất thân với anh ấy. Việc gì tôi làm được là
    tôi cố làm để giúp anh ta, vì anh ta chưa biết làm gì cả. Vả
    lại, anh ấy có can đảm và nhẫn nại. Phụ bếp trên tàu, mỗi
    ngày anh ta phải làm: từ bốn giờ sáng, quét dọn sạch sẽ nhà
    bếp lớn trên tàu, rồi đốt lửa trong các lò. Sau đó đi khuân
    than, rồi xuống hầm lấy rau, thịt, cá, nước đá v.v… Công
    việc khá nặng nhọc vì dưới bếp rất nóng và trong hầm rất
    rét, nhất là khi vừa phải vác một bao nặng vừa leo lên
    những bậc thang trong khi tàu tròng trành.
    Xong công việc ấy, phải dọn cho bọn chủ bếp Pháp ăn. Sau
    đấy, nhặt rau, rửa chảo nồi và đun lò lại. Công việc kéo dài
    suốt ngày.
    Nhà bếp lo ăn cho 7, 8 trăm người cả nhân viên và hành
    khách. Có nhiều cái chảo bằng đồng lớn và nặng quá đến nỗi
    anh Ba phải kéo lê trên sàn. Và những cái nồi cao quá anh
    phải leo lên ghế để chùi nồi. Luôn luôn nghe tiếng:
    - Ba, đem nước đây!
    - Ba, đem chảo đi!

    - Ba, thêm than chỗ này, thêm than chỗ kia!
    Suốt ngày, anh Ba dầm nước, hơi và mồ hôi, mình đầy bụi
    than. Người ta thấy anh Ba phải dùng hết tinh thần và sức
    lực để làm cho xong công việc. Và hơn nữa vì chưa quen
    việc, anh phải gọt xong đống củ cải và khoai tây. Anh không
    biết làm thế nào. Tôi dạy cho anh. Tôi còn nhớ một lần phải
    gọt măng tây. Đây là lần đầu tiên anh Ba thấy măng tây.
    Anh ta bắt đầu gọt trơ trụi, thì vừa lúc tôi đến. Tôi hối hả
    quẳng xuống bể tất cả măng đã gọt và tôi bầy cho anh ta
    phải làm như thế nào. Nhờ thế không xảy ra việc gì.
    Mỗi ngày, 9 giờ tối, công việc mới xong. Anh Ba mệt lử.
    Nhưng trong khi chúng tôi ngủ hoặc đánh bài, anh Ba đọc
    hay viết đến 11 giờ hoặc nửa đêm. Về thứ bậc anh Ba là
    người dưới chúng tôi, chúng tôi là những người có chức vị,
    còn anh Ba thì là người phụ bếp. Nhưng vì anh Ba hiểu biết anh giúp những người bạn mù chữ của tôi viết thư về cho gia
    đình họ, và anh không bao giờ nói tục - vì vậy anh Ba được
    tất cả chúng tôi yêu mến.
    Một lần, dọc đường, anh Ba suýt chết đuối. Bể nổi sóng. Làn
    sóng to như những quả núi chồm lên đổ xuống. Hầu hết mọi
    người say sóng. Như mọi ngày, anh Ba đi lên đi xuống từ
    bếp xuống hầm. Không thể vác những rổ rau lên vai vì tàu
    tròng trành, anh phải buộc rổ rau vào dây sắt để kéo đi,
    chuyến thứ hai một ngọn sóng lớn thình lình phủ lên sàn tàu
    và cuốn xuống bể mọi vật trên sàn tàu. Cả những rổ rau và
    anh Ba nữa. Anh bị đẩy vào giữa cột buồm và dây xích, nhờ
    vậy mà thoát chết.
    Cái gì đối với anh Ba cũng mới, anh phải học tất cả. Ví dụ
    mới đầu anh không ăn được bánh mì và bơ. Ăn xúp thì anh
    dùng nỉa.
    Vài ngày sau tàu rời bến, có hai hành khách - hai người lính
    trẻ tuổi giải ngũ trở về Pháp. Tôi không hiểu tại sao hai anh
    này đã trở nên bạn thân của anh Ba. Họ giúp anh nhặt rau
    và buổi tối họ cho anh mượn những quyển sách nhỏ, dạy cho

    anh đọc và viết. Và anh Ba lại dạy họ học quốc ngữ và thỉnh
    thoảng dấm dúi cho họ một cốc cà phê. Anh nói với tôi với
    một vẻ ngạc nhiên: ”Anh Mai, cũng có những người Pháp tốt,
    anh ạ”.
    Hồi ấy, Bùi Quang Chiêu, kỹ sư canh nông vào làng Tây, đi
    tàu hạng nhất cùng với gia đình. Ông ta đưa con sang Pháp
    học. Trông thấy Ba, ông ta gọi anh lại và thân mật bảo:
    - “Tại sao con lại làm cái nghề khó nhọc này? Bỏ nghề này
    đi. Con nên chọn một nghề khác, danh giá hơn...”. Anh Ba lễ
    phép cảm ơn ông Chiêu, nhưng không nói đồng ý hay không.
    Đến Mạc-xây, chúng tôi lĩnh lương; mỗi nhân viên Việt Nam
    được từ 100 đến 200 quan, thêm vào đấy tiền thưởng của
    hành khách. Anh Ba là phụ bếp chỉ được 10 quan.
    Anh ta được ít lương, nhưng anh học được nhiều chuyện mới
    lạ. Coi tôi là bạn thân thiết nhất, anh ta nói với tôi tất cả
    những điều anh trông thấy và suy nghĩ.
    - “Ơ! Ở Pháp cũng có người nghèo như bên ta!”
    Trông thấy những gái điếm làm tiền trên tàu, Ba nói với tôi:
    - Tại sao người Pháp không “khai hóa” đồng bào của họ
    trước khi đi “khai hóa” chúng ta, sao thế anh Mai?
    Tàu điện đối với anh Ba là một chuyện kỳ lạ. Lần đầu tiên
    anh ta trông thấy những “cái nhà biết chạy” ấy. Cái gì cũng
    làm anh ta chú ý, vì cái gì đối với anh ta cũng mới cả. Luôn
    luôn anh ta nói:
    - “Lần đầu tiên, tôi mới thấy cái này…”
    Công việc trong ngày xong, tôi cho anh ta mượn bộ áo quần,
    và chúng tôi đi đến tiệm cà phê ở đường Ca-nơ-bia. Không
    cần phải nói, đây là lần đầu tiên anh ta vào tiệm cà phê và
    cũng là lần đầu tiên người Pháp gọi anh bằng “ông”.

    Sau những ngày đầu tiên ở Mạc-xây, anh Ba tóm tắt cảm
    tưởng của mình bằng mấy chữ:
    - Người Pháp ở Pháp tốt, lễ phép hơn người Pháp ở Đông
    Dương.
    Chúng tôi đi theo tàu lên Ha-vơ-rơ (Havre) để sửa chữa.
    Chúng tôi được đưa sang làm việc ở một chiếc tàu khác, trở
    về Đông Dương. Anh Ba không muốn trở về. Ông chủ tàu
    đem anh về nhà. Từ đấy, tôi không được tin tức gì của anh
    Ba nữa…
    Không bao giờ tôi đoán rằng người bạn nhỏ của tôi, người
    phụ bếp, anh Ba ngây thơ, siêng năng và ngoan ngoãn ấy,
    lại trở thành Chủ tịch Chính phủ ta, người xây dựng nên
    nước Cộng hòa chúng ta.
    ***
    Theo địa chỉ ông Mai mách, anh Trần, người cộng tác trẻ của
    tôi, đến gặp ông Dân ở Nha Trang. Đấy là những điều anh
    Trần ghi chép: Ông Dân 62 tuổi, chủ một cửa hàng nhỏ sạch
    sẽ và đông khách, nhà đông con. Ông ta tiếp tôi niềm nở và
    kể chuyện:
    “Tôi có hai con trai đi Vệ quốc quân và một con gái đi cứu
    thương. Nhà tôi còn ba con nữa: 22, 20 và 18 tuổi, đều là
    đoàn viên của Đoàn Thanh niên cứu quốc. Cả ba đứa đều
    muốn đi Vệ quốc quân. Khi nào Tổ quốc cần đến chúng nó,
    tôi sẵn sàng hiến con cho Tổ quốc. Có lẽ điều đó sẽ làm cho
    mẹ cháu buồn, nhưng đàn bà thì bao giờ chẳng thế. Tôi cũng
    nên nói để ông rõ là bà nhà tôi cũng là đoàn viên Phụ nữ cứu
    quốc. Còn tôi, thủ quỹ của Việt Minh địa phương. Cả gia đình
    tôi đều làm việc Nhà nước. Cả làng này đều thế. Ai cũng là
    Việt Minh. Việt Minh, Việt Nam, Việt Nam, Việt Minh. Không
    thể có Việt Nam mà không có Việt Minh”.
    Ông Dân có tài nói. Ông bắt chuyện này sang chuyện khác
    rất thần tình. Kéo ông về câu chuyện mà tôi đặc biệt chú ý
    không phải là dễ. Nhưng sau tôi đã thành công.

    - Có chứ, tôi còn nhớ anh Ba ấy. Chắc chắn tôi còn nhớ anh
    ta mặc dầu cách đây đã 30 năm.
    Tôi ở với ông chủ của tôi ở Xanh A-đơ-rét (Saint Adresse).
    Một ngoại ô của Ha-vơ-rơ. Một hôm, ông chủ già dẫn về một
    người trẻ tuổi, gầy yếu, quần áo lôi thôi nhưng có vẻ lanh
    lợi. Tên anh ta là Ba. Ở nước ngoài mà gặp được một người
    đồng hương, thì lập tức người ta dễ trở thành bạn thân.
    Chúng tôi cũng vậy.
    Chúng tôi ở một biệt thự, có vườn hoa. Ông chủ già khi rảnh
    việc thì ở câu lạc bộ thành phố. Bà chủ thường đến nhà
    người con gái, vợ một nhân viên của công ty. Một bà nấu
    bếp, một người tốt, nếu anh ta khéo nịnh thì bà ta cho anh
    ăn ngon, nhưng khi bà ta cáu thì như một mụ yêu tinh. Một
    cô sen xinh xinh hay làm dáng, có một “bà mẹ hay ốm”- “bà
    mẹ ốm” chính là một chàng thủy thủ. Để đi gặp tình nhân,
    chị ta lừa chúng tôi luôn và nói là đi thăm mẹ ốm. Trong nhà
    tất cả là 6 người.
    Đồ đồng đánh bóng, đồ đạc lau xong, bàn ghế sạch bụi, thế
    là ông chủ bà chủ bằng lòng và rất tốt, luôn luôn một điều
    “con” hai điều “con”. Nhưng phần lớn công việc do cô sen
    làm. Chị ta muốn cho chóng xong để đi gặp “bà mẹ ốm”.
    Vì vậy chúng tôi có rất nhiều thì giờ rảnh. Anh Ba dùng thì
    giờ, chăm bón hoa với người làm vườn hoặc giở những
     
    Gửi ý kiến